Ths Đoàn Duy Linh

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng

 Trong Chiến lược phát triển Du lịch Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 được định hướng: Xây dựng Hải Phòng trở thành một trong những cửa ngõ, điểm đến, trung tâm du lịch có tầm cỡ của quốc gia, quốc tế và khu vực phù hợp với lộ trình chung của cả nước, xứng đáng là địa phương mang tính động lực thúc đẩy sự phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Duyên Hải Đông Bắc. Phấn đấu đến năm 2020, du lịch Hải Phòng cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố; có sức hấp dẫn mạnh mẽ, có tầm lan tỏa rộng, đưa Hải Phòng là điểm đến hấp dẫn về dịch vụ du lịch, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, khác biệt, có thương hiệu, có tính cạnh tranh cao mang đậm nét vùng đất và con người Hải Phòng.

Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2020, Hải Phòng có tuyến bay quốc tế đến sân bay Cát Bi, thông tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; Cát Bà, Đồ Sơn trở thành khu du lịch quốc gia cơ bản hoàn thành Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, Cầu Đình Vũ - Cát Hải, làm cơ sở xây dựng cầu cảng đón tàu thủy du lịch quốc tế đến Hải Phòng; 01 Nhà hát quy mô lớn từ 2000 đến 4000 ghế tại khu vực trung tâm thành phố, 02 Nhà hát tổng hợp có quy mô từ 800 đến 1000 ghế tại khu du lịch Cát Bà và Đồ Sơn để tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch phục vụ khách du lịch và nhân dân. Tổ chức đón và phục vụ 9 triệu lượt khách, tăng bình quân 8,25%/năm, trong đó khách quốc tế là 2 triệu lượt, chiếm 22,2%, tăng bình quân 13,86%/năm; tỷ trọng GDP du lịch đạt 11,19% trong tổng GDP của thành phố; doanh thu du lịch đạt 45.000 tỷ, tăng 27,87%/năm.

Hải Phòng là một trong 28 tỉnh, thành phố ven biển ở nước ta và một trong 10 tỉnh, thành phố nằm ven bờ Tây Bắc vịnh Bắc Bộ. Thành phố Hải Phòng có khoảng 125 km chiều dài đường bờ biển và trên 100.000 km2 thềm lục địa, 368 hòn đảo lớn nhỏ. Điều này tạo cho Hải Phòng lợi thế phát triển kinh tế biển, phù hợp với xu thế trong phát triển kinh tế biển đó là vươn ra biển, mở rộng không gian biển, trong đó ngành cảng - hàng hải, du lịch biển, thủy sản, dầu khí và các dịch vụ kinh tế biển Hải Phòng rất có thế mạnh. Do đó, du lịch biển đảo là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch hiện tại cũng như tương lai của Hải Phòng, hạt nhân là Đồ Sơn – Cát Bà – Long Châu - Bạch Long Vỹ.

Về thực trạng nguồn nhân lực du lịch Hải Phòng, tính đến 31/10/2013, nhân lực làm việc trong ngành Du lịch của thành phố Hải Phòng là 13.865 người. Trong đó, số lao động thường xuyên là 13.040 người, số lao động mùa vụ là 825 người; số cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch là 44 người; Số lao động đã qua đào tạo các chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau: 9.619 người (Đại học – trên đại học: 1.250 người; Cao đẳng - trungcấp: 4.425 người; Sơ cấp, khác: 3.944 người). Số lao động biết ngoại ngữ: 8.840 người; độ tuổi từ 24 – 40 tuổi chiếm hơn 70%.

Thực hiện mục tiêu xây dựng Hải Phòng là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực du lịch không chỉ cho Hải Phòng mà còn cho các tỉnh phía Bắc, đến nay Thành phố đã từng bước hình thành hệ thống đào tạo nghiệp vụ du lịch từ sơ cấp đến đại học ở các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho Ngành Du lịch như: Đại học Hải Phòng, Đại học Dân lập Hải Phòng, Cao đẳng Cộng đồng, Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ, Trung cấp Du lịch tư thục Miền Trung và Trung tâm Thông tin Xúc tiến du lịch (thuộc Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch); trong đó, Trường Cao đẳng Nghề Du lịch và Dịch vụ là cơ sở đào tạo chuyên ngành du lịch, hàng năm trường đào tạo khoảng 500 sinh viên chuyên ngành du lịch.

Tuy lực lượng lao động trong ngành Du lịch Hải Phòng trong những năm qua phát triển cả về số lượng và chất lượng nhưng cũng bộc lộ những mặt còn hạn chế. Số lượng lao động trực tiếp, gián tiếp có tăng qua các năm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu để triển khai các hoạt động du lịch đang ngày càng đa dạng về sản phẩm, loại hình du lịch và chất lượng các loại hình và sản phẩm du lịch. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đội ngũ công chức làm công tác quản lý nhà nước về du lịch còn thiếu và yếu, cán bộ chuyên trách làm công tác du lịch ở quận, huyện không nhiều. Cán bộ quản trị kinh doanh du lịch chưa được đào tạo chuyên sâu. Đội ngũ nhân viên nghiệp vụ du lịch còn thiếu tính chuyên nghiệp, kỹ năng nghề chưa thuần thục, sử dụng được ngoại ngữ và tin học phục vụ được yêu cầu công việc không nhiều. Phần lớn nguồn nhân lực du lịch chỉ qua các khóa học “cấp tốc” ngắn hạn nên kỹ năng nghề nói chung còn thấp. Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động đã qua đào tạo, nhưng rất ít người được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch, chủ yếu là từ các ngành khác như ngoại ngữ, khoa học xã hội và tự nhiên.

Thực trạng trên cho thấy từ thực tế chất lượng lao động ngành du lịch đến nhu cầu, đòi hỏi đáp ứng sự phát triển của ngành nhằm khai thác thế mạnh về du lịch nói chung và du lịch gắn với biển đảo nói riêng đang là cả một khoảng cách khá lớn, tình hình này bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành du lịch còn thấp, lao động có chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề còn ít, thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật cao và đặc biệt là thiếu cán bộ giỏi về quản lý và điều hành kinh doanh du lịch. Đội ngũ lao động đang làm việc trong ngành Du lịch chưa được bồi dưỡng cập nhật kiến thức thường xuyên, có nơi chưa quan tâm đến công tác bồi dưỡng, chưa có cơ chế thỏa đáng để khuyến khích nhân viên học thêm nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học. Có sự chênh lệch khá lớn giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ về ý thức, thái độ làm việc, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quảng bá, giới thiệu sản phẩm du lịch. Đặc biệt là kỹ năng giao tiếp tiếng nước ngoài còn hạn chế đối với lực lượng nhân viên trực tiếp phục vụ khách.

Thứ hai, khi tuyển chọn nhân viên, các doanh nghiệp chưa chú trọng đến yêu cầu đòi hỏi nhân lực du lịch phải có kiến thức, có trình độ tin học, ngoại ngữ, tinh thông nghiệp vụ và phải là con người có văn hoá, am hiểu sâu sắc về lịch sử, văn hoá vùng đất, con người Hải Phòng. Nhiều doanh nghiệp chưa có đội ngũ giám đốc nhân sự có tính chuyên nghiệp cao, chưa xây dựng được tiêu chuẩn công việc, chưa thực hiện đúng quy trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh du lịch nhỏ muốn tiết kiệm chi phí nhân công nên chủ yếu thuê lao động phổ thông chưa qua đào tạo vì số lao động này chấp nhận mức tiền công thấp. Chế độ tiền lương, tiền thưởng tại nhiều doanh nghiệp thấp nên chưa có tác động khuyến khích người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ theo mục tiêu của doanh nghiệp, thậm chí không giữ được lao động có trình độ cao.

Thứ ba, sự nhìn nhận của xã hội dẫn đến việc lựa chọn ngành nghề đào tạo chưa đúng mức, coi nhẹ về đào tạo nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, nặng về đào tạo cán bộ quản lý. Không ít các cơ sở kinh doanh du lịch chưa coi trọng công tác đào tạo nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, chỉ đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ nên chất lượng phục vụ thấp, chưa nhận thức được việc đào tạo các nghiệp vụ kỹ thuật trong ngành du lịch là một khoa học đòi hỏi kiến thức rộng, chuyên sâu cao. Cũng do cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương không có chiến lược, khảo sát để hoạch định, dự báo nhu cầu nhân lực sớm, chuẩn xác, công tác định hướng nghề nghiệp yếu.

Thứ tư, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy học tập ở các trường còn lạc hậu, mang nặng lý thuyết, thiếu thực hành, đôi khi còn mang tính thử nghiệm hoặc vận dụng máy móc các chương trình đào tạo của nước ngoài. Giảng viên chưa có kinh nghiệp thực tế, chất lượng chưa cao. Đầu tư thấp dẫn tới thiếu những phương tiện dạy học tối thiểu, nhất là các phương tiện giảng dạy hiện đại và phương tiện cho thực hành của sinh viên.

Các cơ sở đào tạo nghề du lịch chất lượng còn thấp cả về giáo viên, chương trình giảng dạy và cơ sở vật chất, chưa định hướng và sàng lọc học sinh, sinh viên để đào tạo nghề phù hợp với hình thức và nhận thức của họ và chương trình đào tạo tại các trường còn nặng về lý thuyết nên khi ra trường khó xin được việc làm phù hợp với nghề được đào tạo. Sinh viên du lịch ra trường thường không đáp ứng được yêu cầu của từng nghề trong hệ thống các nghề du lịch, phải bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ hoặc đào tạo lại tại chỗ cho phù hợp với thực tế của cơ sở kinh doanh du lịch.

Thứ năm, do tính mùa vụ cao trong du lịch miền Bắc nói chung và Hải Phòng nói riêng, nên những lao động trong ngành du lịch không ổn định dẫn đến có những người đã chuyển sang những ngành nghề khác. Phần lớn lao động trong ngành du lịch là nữ giới, chịu sức ép về mặt tâm lý rất lớn nên ảnh hưởng đến chất lượng làm việc của đội ngũ lao động này.

Với những nguyên nhân kể trên, có thể nói, phát triển nguồn nhân lực vừa có tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa chiến lược và cũng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, phải đặt lên vị trí hàng đầu trong quá trình phát triển của du lịch Hải Phòng. Mục tiêu chung của đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực là nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng nguồn nhân lực, hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao và sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có để nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng với công việc trong tương lai để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch Hải Phòng trong thời gian tới. Song song với nhiệm vụ đó, tăng nhanh tỷ lệ đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ phục vụ du lịch cho đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với các hình thức cấp học, ngành học khác nhau, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch theo phương châm vừa đào tạo dài hạn chuyên ngành mang tính tập trung, bài bản, vừa phải đào tạo truyền nghề, thiếu gì bù đó.

Về dài hạn, ngành Du lịch Hải Phòng cần tập trung triển khai thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, để đáp ứng nhu cầu phát triển, phát huy lợi thế về tài nguyên du lịch biển, đảo cũng như đặc trưng của vùng đất, con người miền biển Hải Phòng, đối với phát triển nguồn nhân lực du lịch đặc biệt là nhân lực quản lý du lịch và lao động có tay nghề cao phù hợp với ngành kinh tế mũi nhọn và hướng vươn ra biển đảo cần phải có khảo sát, đánh giá, dự báo nhu cầu, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực du lịch phù hợp với nhu cầu phát triển từng thời kỳ. Song song với đó là đẩy mạnh việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên làm việc trong ngành Du lịch một cách đồng bộ từ cán hộ quản lý, thuyết minh viên, hướng dẫn viên, nhân viên nghiệp vụ bàn, buồng phòng, đầu bếp chuyên sâu về chuyên môn để phục vụ yêu cầu trước mắt.

Thứ hai: Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch bên cạnh chiến lược về đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, chiến lược phát triển thị trường, sản phẩm với những định hướng vươn ra biển đảo và hội nhập kinh tế quốc tế, lộ trình thực hiện cụ thể; đưa ra những nhu cầu về nhân lực dài hạn để có căn cứ xây dựng được lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng; huy động các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch thành phố.

Thứ ba: Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực du lịch nhằm đánh giá số lượng, chất lượng, cơ cấu đào tạo của nguồn nhân lực của ngành du lịch, những biến động về số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực ngành du lịch, đồng thời, để hoạch định các chiến lược, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển và các định hướng phát triển du lịch.

Thứ tư: Nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực ngành du lịch trong xu hướng vươn ra biển, hội nhập và toàn cầu hoá, đáp ứng yêu cầu quốc tế, từng bước đạt những tiêu chuẩn chung và được thừa nhận trong khu vực và thế giới, tạo tiền đề cho tự do di chuyển lao động quốc tế, được khu vực và quốc tế công nhận rộng rãi. Do đó, tập trung vào một số vấn đề: (1) Phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành về từng lĩnh vực chuyên sâu của hoạt động du lịch; (2) Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên và đào tạo viên du lịch; (3) Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch; (4) Hoàn thiện cơ chế chính sách để khuyến khích xã hội hoá đào tạo du lịch.

Thứ năm: Liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế tạo sự liên kết chặt chẽ giữa 3 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Nhà sử dụng lao động trong quá trình phát triển nhân lực du lịch cho thành phố Hải Phòng. Nhà nước tạo môi trường pháp lý, tạo chuẩn quốc gia về nhân lực làm cơ sở cho đào tạo và sử dụng lao động, thúc đẩy và kiểm tra, giám sát đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch. Các cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch liên kết với nhau và với doanh nghiệp du lịch; các doanh nghiệp du lịch liên kết với nhau và với cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch để tạo nguồn lực cho nhau, để kiểm định đầu ra của cơ sở đào tạo, dạy nghề du lịch, nâng cao và chuẩn hóa đầu vào cho cơ sở sử dụng lao động du lịch, điều chỉnh các hoạt động của từng đơn vị.

Thứ sáu: Tuyên truyền, giáo dục hướng nghiệp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức và nhân dân về phát triển nhân lực ngành Du lịch: Tuyên truyền, giáo dục hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục phổ thông để định hướng cho học sinh phổ thông lựa chọn nghề, lựa chọn trường theo dự báo nhu cầu mới. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và đoàn thể về phát triển nhân lực ngành du lịch, thay đổi nhận thức và hành vi của các tổ chức đào tạo, dạy nghề du lịch và sử dụng nhân lực du lịch theo hướng tăng cường độc lập, tư chủ và hoạt động thích nghi với thị trường lao động, đẩy mạnh liên kết. Giáo dục cộng đồng dân cư về phát triển nguồn nhân lực du lịch trong điều kiện phát triển, mở rộng không gian kinh tế biển và hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn tự tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế hộ gia đình làm du lịch, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; đào tạo tay nghề để khôi phục, phát triển nghề cổ truyền tạo điểm tham quan du lịch và sản xuất hàng lưu niệm du lịch,... nhất là xu hướng du lịch biển, đảo và liên quan đến biển đảo.

Thứ bảy, huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực ngành du lịch: Tăng nguồn ngân sách Nhà nước (ngân sách trung ương và địa phương). Tăng nhanh các nguồn lực của khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là trong việc phát triển hệ thống dạy nghề du lịch nhằm đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Mở rộng hợp tác quốc tế và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài để phát triển đào tạo nhân lực du lịch. Huy động các nguồn lực của các tổ chức xã hội... cho phát triển đào tạo nhân lực ngành Du lịch.

Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực du lịch Hải Phòng, trước mắt cũng như lâu dài là việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa số lượng, chất lượng và phải xuất phát từ nhu cầu phát triển du lịch gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội chung của thành phố; nguồn nhân lực phải đa tầng, đa cấp độ, đảm bảo tính dân tộc và hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch, yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và hội nhập quốc tế của thành phố.

ĐDL

 

hoi khoa hoc ptnnlnthp 5 nam

van-nghe

thong bao tuyen sinh

cung-the-thao-thanh-nien
no-gio
hai-phong
tri-tue-viet
dat-viet
so khoa hoc va cong nghe hai phong

Tổng lượng truy cập

mod_vvisit_counterHôm nay370
mod_vvisit_counterHôm qua455
mod_vvisit_counterTất cả300593

Hiện Đang Trực Tuyến: 2